Thay đổi thẩm quyền quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp từ ngày 01/7/2026

1. Định nghĩa

Căn cứ khoản 1, 1a Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp 2009 (sửa đổi, bổ sung năm 2025– có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026):

“ Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Lý lịch tư pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản.

1a.Thông tin lý lịch tư pháp gồm thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.”

2. Đối tượng chịu sự quản lý lý lịch tư pháp

Cơ quan có thẩm quyền thực hiện quản lý lý lịch tư pháp đối với các đối tượng:

  • Công dân Việt Nam bị kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam, Tòa án nước ngoài mà trích lục bản án hoặc trích lục án tích của người bị kết án được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.
  • Người nước ngoài bị Tòa án Việt Nam kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật.
  • Công dân Việt Nam, người nước ngoài bị Tòa án Việt Nam cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong quyết định tuyên bố phá sản đã có hiệu lực pháp luật.
  • 3. Nguyên tắc quản lý lý lịch tư pháp hiện hành

Theo Điều 4 Luật Lý lịch tư pháp 2009 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), các nguyên tắc quản lý lý lịch tư pháp được quy định cụ thể như sau:

  • Lý lịch tư pháp chỉ được lập trên cơ sở bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; quyết định của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đã có hiệu lực pháp luật.
  • Bảo đảm tôn trọng bí mật đời tư của cá nhân.
  • Thông tin lý lịch tư pháp phải được cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý đầy đủ, chính xác theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Luật này. Cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin trong Phiếu lý lịch tư pháp

4. Thẩm quyền quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp từ ngày 01/7/2026

Theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp 2009 (sửa đổi, bổ sung năm 2025- có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026), thẩm quyền quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp được quy định cụ thể:

“Điều 9. Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp

  1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.
  2. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.
  3. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp quy định việc phối hợp trong thực hiện thủ tục tra cứu, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp và việc xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự.”

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, nhiệm vụ chủ trì quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp được chuyển giao từ Bộ Tư pháp sang Bộ Công an chịu trách nhiệm chính.

5. Kết luận và khuyến nghị 

Căn cứ theo các nội dung sửa đổi trên, các cơ quan, tổ chức và cá nhân khi thực hiện thủ tục liên quan đến lý lịch tư pháp cần lưu ý các điểm sau:

  • Kể từ ngày 01/07/2026, các thủ tục tra cứu, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp và xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích sẽ do Bộ Công an chủ trì phối hợp thực hiện.
  • Các tổ chức khi yêu cầu thông tin lý lịch tư pháp hoặc cá nhân khi khai báo thông tin để cấp Phiếu lý lịch tư pháp cần đối chiếu đúng các văn bản hướng dẫn mới của Bộ Công an để bảo đảm đúng trình tự thẩm quyền.

Để biết thêm chi tiết, vui lòng liên hệ Công ty luật TNHH Huỳnh Nam.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *