Thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã trong việc tước chứng chỉ hành nghề luật sư theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP

Nghị định số 109/2026/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/4/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phụ hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (Nghị định 109/2026) mang đến một thay đổi mang tính bước ngoặt: Phân cấp thẩm quyền tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư xuống cấp cơ sở. Vậy cụ thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã được quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư trong những trường hợp nào?

Sự ra đời của Nghị định 109/2026 (có hiệu lực từ ngày 18/05/2026) đã cụ thể hóa việc tăng cường giám sát hoạt động bổ trợ tư pháp ngay từ địa phương. Một trong những điểm gây chú ý nhất là ranh giới thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã đối với các chức danh tư pháp, đặc biệt là luật sư.

1. Thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã

Theo quy định tại Điều 84 Nghị định 109/2026, thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã đã được mở rộng đáng kể trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp. Cụ thể:

  • Theo điểm b khoản 1 Điều 84, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt tiền lên đến 25.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp (bao gồm hoạt động luật sư, tư vấn pháp luật).

  • Theo điểm c khoản 1 Điều 84, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền quyết định đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề luật sư.

Chủ tịch UBND cấp xã có quyền ra quyết định tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư nếu hành vi vi phạm đó có hình thức xử phạt bổ sung là “Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề luật sư” tại khoản 9 Điều 8 của Nghị định này.

2. Các trường hợp Chủ tịch UBND cấp xã có quyền ra quyết định tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư

Dựa trên sự đối chiếu giữa khung thẩm quyền tại Điều 84 và các hành vi vi phạm tại Điều 8 Nghị định 109/2026, Chủ tịch UBND cấp xã có toàn quyền ra quyết định xử phạt (bao gồm cả phạt tiền và tước quyền sử dụng chứng chỉ) đối với các nhóm hành vi sau:

2.1. Nhóm hành vi vi phạm bị tước chứng chỉ từ 01 tháng đến 03 tháng

Căn cứ theo điểm a khoản 9 Điều 8 Nghị định 109/2026, các hành vi vi phạm sau đây có thể áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam:

  • Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng ngoài cơ quan, tổ chức mà luật sư đã ký hợp đồng lao động (trừ trường hợp luật định).

  • Thành lập hoặc tham gia thành lập từ hai tổ chức hành nghề luật sư trở lên.

  • Làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức khác bằng hình thức luật sư hành nghề với tư cách cá nhân ngoài tổ chức hành nghề luật sư mà mình đã thành lập, tham gia thành lập hoặc đã ký hợp đồng lao động.

  • Hành nghề luật sư không đúng hình thức hành nghề theo quy định.

  • Hành nghề luật sư với tư cách cá nhân mà không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp nếu có thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

  • Ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng không thông qua tổ chức hành nghề luật sư hoặc không có văn bản ủy quyền của tổ chức đó.

  • Hoạt động không đúng phạm vi hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam.

2.2. Nhóm hành vi vi phạm bị tước chứng chỉ từ 06 tháng đến 09 tháng

Hành vi này thuộc khoản 5 Điều 8, có khung phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Do mức phạt tối đa (20 triệu đồng) vẫn thấp hơn hạn mức 25 triệu đồng, Chủ tịch UBND cấp xã hoàn toàn có thẩm quyền xử lý hành vi:

  • Cho người khác sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư để hành nghề (Điểm b Khoản 5). Chế tài bổ sung được quy định tại Điểm b Khoản 9 Điều 8.

  • Luật sư nước ngoài thực hiện hoạt động tư vấn hoặc dịch vụ pháp lý vượt quá hoặc không đúng với phạm vi hành nghề được cơ quan có thẩm quyền cấp phép tại Việt Nam theo quy định tại Điểm a Khoản 5 và Điểm a Khoản 9 Điều 8 Nghị định 109/2026/NĐ-CP

3. Những trường hợp Chủ tịch cấp xã KHÔNG có quyền tước Chứng chỉ

Mặc dù Nghị định 109/2026 trao quyền cho cấp xã, nhưng ranh giới được phân định rõ ràng dựa trên mức tiền phạt tối đa của hành vi. Chủ tịch UBND cấp xã không có thẩm quyền ra quyết định tước chứng chỉ hành nghề đối với các vi phạm tại Khoản 6, 7 và 8 Điều 8, bởi lẽ các hành vi này có khung phạt tiền vượt quá 25.000.000 đồng (từ 30 triệu đến 40 triệu đồng). Ví dụ:

  • Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người tiến hành tố tụng (Khoản 6).

  • Sách nhiễu khách hàng; nhận tiền ngoài hợp đồng; lừa dối khách hàng (Khoản 7).

  • Xúi giục khách hàng khai sai sự thật; cung cấp tài liệu giả; tiết lộ thông tin khách hàng (Khoản 8).

Khi phát hiện các hành vi này tại địa bàn, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm lập biên bản vi phạm hành chính và chuyển hồ sơ lên Chủ tịch UBND cấp tỉnh để ban hành quyết định xử phạt theo thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều 84.

4. Kết luận và khuyến nghị pháp lý

Việc trao quyền tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư cho Chủ tịch UBND cấp xã theo Nghị định 109/2026 cho thấy xu hướng thắt chặt kỷ luật hành nghề ngay từ cấp cơ sở. Các luật sư cần đặc biệt lưu ý:

  • Mọi hợp đồng dịch vụ pháp lý khi thực hiện tại địa phương phải đảm bảo đúng hình thức, có sự ủy quyền hoặc thông qua tổ chức hành nghề. Những sai sót về mặt thủ tục hành chính hiện nay có thể dẫn đến hậu quả bị tước quyền hành nghề ngay tại cấp xã.

  • Tuyệt đối không cho mượn hoặc để người khác sử dụng danh nghĩa chứng chỉ hành nghề của mình. Đây là lỗi nghiêm trọng mà cấp xã có toàn quyền xử lý với thời hạn tước lên đến 09 tháng.

Nắm vững ranh giới thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước không chỉ giúp luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình mà còn đảm bảo hoạt động hành nghề diễn ra an toàn, bền vững.

Để biết thêm chi tiết, vui lòng liên hệ Công ty luật TNHH Huỳnh Nam.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *