Thời gian gần đây, nhiều vụ việc học sinh đánh nhau, quay video rồi đăng tải lên mạng xã hội đã thu hút sự quan tâm lớn của dư luận. Không chỉ gây tổn thương về thể chất và tinh thần cho nạn nhân, các hành vi bạo lực học đường còn làm dấy lên nhiều tranh luận về trách nhiệm pháp lý của người gây ra hành vi, đặc biệt khi người thực hiện chưa đủ 16 tuổi.
Không ít người cho rằng học sinh dưới 16 tuổi sẽ “không bị xử lý” vì chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tuy nhiên, đây là quan điểm chưa đầy đủ. Trên thực tế, pháp luật Việt Nam có nhiều cơ chế xử lý khác nhau đối với người chưa thành niên tùy theo độ tuổi, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả xảy ra.
Bạo lực học đường là gì?
Hiện nay, pháp luật đã có quy định về khái niệm “bạo lực học đường” tại Nghị định 80/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường.
Căn cứ khoản 5 Điều 2 Nghị định 80/2017/NĐ-CP, bạo lực học đường được định nghĩa như sau:
“Điều 2. Giải thích từ ngữ
- Bạo lực học đường là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của người học xảy ra trong cơ sở giáo dục hoặc lớp độc lập.”
Học sinh dưới 16 tuổi có phải chịu trách nhiệm pháp lý không?
-
Trách nhiệm trong nhà trường
Đáng chú ý, năm 2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 19/2025/TT-BGDĐT (có hiệu lực từ ngày 31/10/2025), theo đó bãi bỏ hình thức đình chỉ học tập và thu hẹp đáng kể các biện pháp kỷ luật đối với học sinh. Cụ thể, mức kỷ luật cao nhất hiện nay chỉ còn là viết bản kiểm điểm, cụ thể tại Điều 13 Thông tư 19/2025/TT-BGDĐT quy định như sau:
“Điều 13. Biện pháp kỷ luật
1. Các biện pháp kỷ luật đối với học sinh tiểu học
a) Nhắc nhở;
b) Yêu cầu xin lỗi.
2. Các biện pháp kỷ luật đối với học sinh ngoài đối tượng học sinh tiểu học
a) Nhắc nhở;
b) Phê bình;
c) Yêu cầu viết bản tự kiểm điểm.”
Đồng thời, căn cứ khoản 2 Điều 11, Thông tư này nghiêm cấm việc áp dụng các biện pháp kỷ luật mang tính bạo lực, xúc phạm nhân phẩm hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đến thể chất, tinh thần của học sinh.
Quy định mới thể hiện rõ sự chuyển dịch trong chính sách giáo dục theo hướng nhân văn, lấy giáo dục làm trung tâm, tôn trọng và bảo vệ học sinh trong môi trường học đường. Nhưng cũng có nhiều tranh cãi đặt ra, băn khoăn khi cho rằng hình thức xử lý như vậy chưa đủ cứng rắn và có tính răn đe nếu học sinh có vi phạm nghiêm trọng và lặp lại nhiều lần.
Tuy nhiên, việc xử lý kỷ luật trong nhà trường không đồng nghĩa với việc người vi phạm được miễn trừ các trách nhiệm pháp lý khác nếu hành vi đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
-
Xử lý vi phạm hành chính
Theo điểm a khoản 1 Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định về đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính như sau:
“Điều 5. Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính
1. Các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.”
Tuy nhiên, căn cứ theo Điều 22 Luật Xử lý vi phạm hành chính, mức phạt cao nhất đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện là cảnh cáo (cảnh cáo được quyết định bằng văn bản).
Ngoài ra, khoản 3 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính với người chưa thành niên như sau:
“Điều 134. Nguyên tắc xử lý
- Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi vi phạm hành chính.
Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng hình thức phạt tiền.
Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; bị buộc phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này thì số tiền nộp vào ngân sách nhà nước bằng 1/2 trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay;”
Đối với các hành vi xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác thường gặp trong các vụ việc bạo lực học đường, chế tài hiện nay được quy định tại Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội và phòng, chống bạo lực gia đình (có hiệu lực từ ngày 15/12/2025).
-
Trách nhiệm hình sự
Khi hành vi bạo lực học đường vượt quá mức độ vi phạm hành chính, có tính chất nguy hiểm cao cho xã hội hoặc gây thương tích nghiêm trọng, người thực hiện hành vi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trước hết, về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định cụ thể về độ tuổi mà học sinh phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hình sự như sau:
– Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những trường hợp Bộ luật Hình sự có quy định khác.
– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và một số tội danh được Bộ luật Hình sự quy định.
– Người dưới 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, không phải mọi hành vi bạo lực học đường của người dưới 16 tuổi đều dẫn đến trách nhiệm hình sự. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi người thực hiện đã đủ tuổi luật định và hành vi có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự.
Đối với các vụ việc bạo lực học đường, tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả xảy ra, người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về một số tội danh như:
– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), khi hành vi xâm phạm sức khỏe người khác đạt mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
– Tội làm nhục người khác (Điều 155), nếu người thực hiện có hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác, chẳng hạn như ép nạn nhân quỳ gối, lột quần áo, quay video hoặc phát tán hình ảnh nhằm bêu xấu, hạ nhục.
Tuy nhiên, vì đối tượng thực hiện hành vi bạo lực học đường đa số là người dưới 18 tuổi, Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 đã quy định chi tiết về hình phạt dành cho những đối tượng này như sau:
“Điều 115. Các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền;
- Cải tạo không giam giữ;
- Tù có thời hạn.”
Trong đó, theo Điều 116, cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất, được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng chưa đủ điều kiện để được miễn hình phạt.
Đối với phạt tiền, Điều 117 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định chỉ áp dụng khi người phạm tội có thu nhập hoặc tài sản riêng. Đồng thời, pháp luật cũng giới hạn mức tiền phạt nhằm bảo đảm phù hợp với độ tuổi và khả năng tài chính của người chưa thành niên. Theo đó, mức phạt tiền đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật tương ứng của Bộ luật Hình sự quy định; đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không quá một phần ba mức tiền phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Đối với cải tạo không giam giữ, Điều 118 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định hình phạt này được áp dụng trong một số trường hợp nhất định tùy theo độ tuổi và tính chất của tội phạm. Đáng chú ý, khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên, Tòa án không khấu trừ thu nhập của người bị kết án và thời hạn cải tạo không giam giữ cũng không quá một phần hai thời hạn mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định.
Đối với tù có thời hạn, Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định việc áp dụng hình phạt này đối với người chưa thành niên phải bảo đảm nguyên tắc giảm nhẹ so với người thành niên, phù hợp với độ tuổi, mức độ lỗi và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Theo đó, khi quyết định hình phạt tù có thời hạn, Tòa án không áp dụng toàn bộ khung hình phạt như đối với người thành niên mà phải tuân theo các giới hạn được quy định tại Luật Tư pháp người chưa thành niên, trong đó mức hình phạt cụ thể được xác định theo từng nhóm độ tuổi và từng loại tội phạm, đồng thời bảo đảm không vượt quá mức tối đa mà luật này cho phép đối với người chưa thành niên.
Có thể thấy, mặc dù người chưa thành niên vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các điều kiện luật định, nhưng hệ thống hình phạt được thiết kế theo hướng giảm nhẹ và cá thể hóa trách nhiệm. Điều này thể hiện rõ quan điểm của pháp luật Việt Nam là lấy giáo dục, giúp người chưa thành niên sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập cộng đồng làm mục tiêu chính, thay vì chỉ chú trọng đến việc trừng phạt.
Để biết thêm chi tiết, vui lòng liên hệ Công ty luật TNHH Huỳnh Nam.

