DI CHÚC VIẾT TAY: ĐIỀU KIỆN NÀO ĐỂ CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015?

Di chúc viết tay có cần công chứng mới có giá trị pháp lý không? Người lập di chúc phải đáp ứng những điều kiện nào để di chúc được công nhận là hợp pháp? Nếu di chúc có sửa chữa, tẩy xóa hoặc chỉ viết trên một tờ giấy thông thường thì có bị vô hiệu không?

Đây là những vấn đề thường phát sinh khi phân chia di sản, đặc biệt đối với trường hợp cha mẹ để lại tài sản cho con bằng một bản di chúc tự viết tại nhà.

Theo Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật không bắt buộc mọi di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng vẫn có thể hợp pháp nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo luật định. Vì vậy, một bản di chúc viết tay không công chứng hoặc chứng thực không đương nhiên vô hiệu.

Căn cứ tại Điều 627 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hình thức của di chúc: 

“Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.”

Theo đó, Điều 628 Luật này quy định rõ di chúc bằng văn bản bao gồm: 

“1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.

2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.

3. Di chúc bằng văn bản có công chứng.

4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực.”

Pháp luật dân sự không quy định chi tiết hay giải thích thế nào là di chúc viết tay. Tuy nhiên, căn cứ vào những loại di chúc bằng văn bản trên, có thể hiểu rằng di chúc viết tay là di chúc không được công chứng, chứng thực. 

Như vậy, có thể thấy Bộ luật dân sự cho phép cá nhân được lập di chúc viết tay (gồm di chúc bằng văn bản có người làm chứng và di chúc bằng văn bản không có người làm chứng). 

Căn cứ tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự 2015 quy định: 

“1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.”

Theo đó, di chúc viết tay hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây

Điều kiện đối với người lập di chúc

  • Phải từ đủ mười lăm tuổi, trường hợp di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc (theo khoản 2 Điều 630 Bộ luật dân sự); 
  • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc;
  • Không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép.

Điều kiện đối với nội dung di chúc

  • Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật;
  • Theo quy định tại Điều 631 Bộ luật dân sự, di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau: Ngày, tháng, năm lập di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản.
  • Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác. 
  • Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
  • Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.

Điều kiện đối với hình thức của các loại di chúc viết tay

  • Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc. 
  • Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: phải có ít nhất là hai người làm chứng, trừ những người sau đây: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc. 

Theo những phân tích trên, các loại di chúc viết tay có giá trị pháp lý như di chúc văn bản công chứng hoặc chứng thực, đều có giá trị trong việc thể hiện ý chí của cá nhân khi muốn chuyển tài của bản thân cho người khác sau khi chết. 

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 640 Bộ luật dân sự về việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc, người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào. 

Trong trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật. 

Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ. 

Cũng tại khoản 3 Điều 643 Bộ luật dân sự quy định: “Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.”

Để biết thêm chi tiết, vui lòng liên hệ Công ty luật TNHH Huỳnh Nam.